Lục Tổ Huệ Năng – Thiền Sư Âu Lạc Lừng Danh Trên Đất Trung Hoa

0
41

Đại Minh Sư Huệ Năng là vị Tổ thứ Sáu và là vị Tổ Cuối cùng của Phật giáo Thiền tông. Ngài ra đời năm 638 sau Công Nguyên ở Tân Châu, Lĩnh Nam, nay là một phần thuộc miền Bắc Âu Lạc (Việt Nam).

Huệ Năng sớm mồ côi cha và sống trong gia cảnh nghèo khó. Ngài là người sáng dạ, học hỏi tri thức từ đời sống hàng ngày nơi phiên chợ và từ những người mà Ngài tiếp xúc.

Trong một buổi họp mặt ở Brazil, vào tháng 11 năm 1989, Ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư đã chia sẻ thêm về hành trình đầy cảm hứng của Ngài Huệ Năng để trở thành vị Tổ thứ Sáu của Thiền tông Phật giáo:

“…Một ngày nọ, Ngài đi ngang qua một nhà giàu và nghe có người tụng Kinh Kim Cang. Kinh Kim Cang là một bộ kinh rất nổi tiếng của Phật giáo. Bấy giờ, Ngài chỉ nghe được một câu trong bộ kinh đó, và rồi Ngài được khai mở, tự mình khai ngộ bên trong. Có nghĩa là lối suy nghĩ của Ngài bỗng nhiên được thay đổi. Có lẽ trước đây, Ngài chỉ luôn nghĩ đến việc phụng dưỡng mẹ già hoặc kiếm tiền. Bấy giờ, sau khi nghe được câu kinh đó, Ngài bắt đầu nghĩ đến việc đạt khai ngộ hoặc muốn tìm Thượng Ðế, hoặc muốn tìm Phật Tánh. Ðó gọi là “khai ngộ.” Nhưng đó chỉ là khai ngộ trong trình độ tri thức. Có một loại khai ngộ khác, đó là khai ngộ trực tiếp – không phải như quý vị hiểu biết qua tri thức. Ðó là quý vị thấy Thượng Ðế, thấy Phật Tánh trực tiếp…”

Sau đó, Ngài Huệ Năng đi tìm Minh Sư để đạt được loại khai ngộ thứ hai. Khi được biết về Đại Sư Hoằng Nhẫn, Ngài Huệ Năng đã thu xếp cho người khác chăm sóc mẹ già, rồi Ngài đi bộ 30 ngày, mong được gặp và bày tỏ sự tôn kính đến Ngũ Tổ. Cuộc gặp gỡ tuy ngắn ngủi nhưng mang tính lịch sử diễn ra như sau:

“Ngươi từ đâu đến?” Vị Đại Sư hỏi.

“Con là nông phu đến từ Tân Châu, con mong cầu thành Phật.”

“Ngươi là người Lĩnh Nam, người Lĩnh Nam không có Phật tánh. Làm sao thành Phật được?” Vị Đại Sư hỏi vặn lại.

Không nao núng, Huệ Năng đáp rất vững vàng: “Người tuy có Nam có Bắc, nhưng Phật tánh vốn không Bắc không Nam, sao Ngài lại phân biệt?”

Đại Sư Hoằng Nhẫn rất lấy làm khâm phục câu trả lời của Huệ Năng. Tuy nhiên, Đại Sư không để lộ ra. Thay vào đó, Ngài chỉ thị Huệ Năng làm việc phía sau tăng viện, phục vụ các tu sĩ. Tám tháng sau, Ngũ Tổ gọi các đệ tử của Ngài lại và tuyên bố ý định truyền Y Bát. Ngài yêu cầu mỗi đệ tử viết một bài kệ mô tả trí huệ bên trong, và người nào chứng minh được sự liễu ngộ tâm linh cao nhất sẽ nhận được Y Bát và trở thành vị Tổ thứ Sáu. Vào lúc đó, vị tăng trưởng của tăng viện là Thần Tú. Sau vài ngày suy ngẫm, Thần Tú đã âm thầm viết bài kệ lên bức tường gần thiền sảnh.

Đại sư Hoằng Nhẫn khen ngợi và chỉ thị giữ bài kệ đó trên tường để mọi người đọc và suy ngẫm. Tuy nhiên Ngũ Tổ biết rằng Thần Tú vẫn chưa vào được cánh cửa của sự khai ngộ. Vào lúc ấy, Huệ Năng âm thầm làm một bài kệ. Vì Ngài không biết chữ, nên Ngài nhờ một người khác viết bên cạnh bài kệ của Thần Tú. Bài kệ của Huệ Năng được mọi người khen ngợi. Nhưng thay vì khen ngợi, Đại Sư Hoằng Nhẫn dùng giày xóa đi bài kệ để bảo vệ người đệ tử khai ngộ. Ngày hôm sau, Đại Sư Hoằng Nhẫn bí mật gặp Huệ Năng và trao cho Ngài Y Bát của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma và bảo Huệ Năng đi về hướng Nam.

Một ngày nọ, sau khi đến Chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, Trung Quốc ngày nay, Đại Sư Huệ Năng nhìn thấy một nhóm tăng sĩ đang tranh luận hăng say. Một vị tăng nói: “Là phướn đang động!” “Vị tăng kế nói: “Là gió đang động.” Một vị tăng thứ ba cắt ngang và tuyên bố: “Nhân quả gây ra động!” Huệ Năng lúc đó bước vào, điềm tĩnh nói: “Vốn là tâm động!” Tất cả mọi người có mặt hoàn toàn sửng sốt trước sự thông đạt của vị nhân sĩ này.

Ngài Huệ Năng chính thức được công nhận là vị Tổ thứ Sáu, và sau đó thiết lập chùa riêng, truyền pháp, giúp cho vô số người tu hành đạt được sự khai ngộ. Đại Sư Huệ Năng được xem là vị tổ của trường phái “đốn ngộ”, nhấn mạnh việc thực hành thiền định hơn việc học kinh điển, là con đường để đạt đến sự liễu ngộ bên trong.

Mời xem toàn bộ chương trình về Ngài Huệ Năng tại đây:

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here